Ung thư bàng quang

Ung thư bàng quang (UTBQ) là bệnh ung thư thường gặp nhất của hệ tiết niệu. Ở Việt Nam theo ghi nhận tại Hà Nội, ung thư bàng quang có tỷ lệ mắc ở mức trung bình sau các bệnh ung thư phổi, dạ dày, gan, vú, vòm mũi họng.

Nguyên nhân nào gây ung thư bàng quang?

Các yếu tố nguy cơ gây UTBQ thường được nêu là: Các bệnh nghề nghiệp (hoá chất, nhuộm, cao su, dầu khí, thuộc da), các tác nhân gây ung thư bao gồm:Benzidine, beta-naphthylamine, 40 amnodipheny; Hút thuốc lá có mối liên quan giữa thời gian và số lượng hút thuốc lá với tăng tỉ lệ mắc UTBQ; Bệnh sán máng Schistosomia haemato-bium, gây viêm nhiễm ở bàng quang do trứng của chúng; Các yếu tố gây kích thích và viêm nhiễm bàng quang lâu ngày (sỏi bàng quang, ống thông bàng quang); Yếu tố di truyền (không rõ ràng), tuy nhiên có báo cáo về nguy cơ cao trong gia đình có người bị UTBQ.

 Chẩn đoán có khó?

 Lâm sàng: Đái ra máu; đái nhiều lần, đái khó, có triệu chứng tắc nghẽn đường tiết niệu, triệu chứng di căn, toàn thân gầy sút, sốt.

Các phương pháp cận lâm sàng: Nội soi và sinh thiết. Nội soi bàng quang là biện pháp quan trọng nhất để chẩn đoán ung thư bàng quang. Các trường hợp u lan rộng, nhiều u hoặc u to có nguy cơ xâm lấn sâu cần được nội soi ổ bụng lấy mẫu hạch chậu bịt hai bên và hạch chủ bụng để giúp chẩn đoán giai đoạn bệnh và lập kế hoạch điều trị.

Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm (thực hiện qua siêu âm bụng hoặc siêu âm nội soi để phát hiện u), chụp UIV (ngoài việc đánh giá bàng quang còn giúp đánh giá thận, niệu quản, ngày nay UIV ít được chỉ định vì có siêu âm và CT thay thế), chụp CT hoặc MRI (cho phép đánh giá khối u, mức xâm lấn ung thư, tình trạng hạch tiểu khung).

 Để chẩn đoán UTBQ cần kết hợp nhiều phương pháp: hỏi kỹ bệnh sử, thăm khám lâm sàng, phối hợp với các phương pháp cận lâm sàng để có chẩn đoán chính xác, tránh bỏ sót những trường hợp sớm và có thái độ xử trí thích hợp ngay từ đầu, để góp phần quan trọng cải thiện kết quả điều trị.

 Chẩn đoán phân biệt 

Viêm bàng quang: Có thể gây đái máu, đái buốt, đái rắt, hội chứng nhiễm khuẩn. Thử nước tiểu có hồng cầu, bạch cầu và soi bàng quang thấy hình ảnh viêm không có u.

Lao bàng quang hoặc lao đường tiết niệu: Làm xét nghiệm BK trong nước tiểu. Chụp phim UIV có thể thấy  loét lao đài thận, soi bàng quang không thấy u, thấy hình ảnh viêm lao, dung tích bàng quang bé; Sỏi bàng quang; U xơ tiền liệt  tuyến; Ung thư thận hay niệu quản.

Điều trị và phòng ngừa như thế nào?

 Điều trị: Chỉ định và kế hoạch điều trị ung thư bàng quang tuỳ thuộc vào giai đoạn của UTBQ. Cắt u nội soi qua niệu đạo, kết hợp với hoá trị liệu hay miễn dịch trị liệu đạt hiệu quả với UTBQ nông. Đối với UTBQ xâm lấn, cắt bàng quang kết hợp với hoá chất toàn thân hay xạ trị là cần thiết.

Điều trị u giai đoạn 0: BCG, Mitomycin hoặc Thiotepa nội bàng quang; Cắt, đốt u qua nội soi, và điều trị bổ trợ bằng BCG, Mitomycin hoặc Thiotepa nội bàng quang

Điều trị u giai đoạn I: Cắt u qua nội soi kết hợp với BCG, Mitomycin hoặc Thiotepa nội bàng quang; U G3-4 lan rộng: cắt bàng quang bán phần kết hợp với BCG, Mitomycin hoặc Thiotepa nội bàng quang.

Điều trị u giai đoạn II, III (T2, T3a, u nhỏ): Phẫu thuật cắt bàng quang bán phần đảm bảo diện cắt 2cm, hoặc toàn bộ bàng quang tùy theo vị trí u, kết hợp vét hạch chậu bịt hai bên.

Tất cả các trường hợp này đều cần hoá trị liệu bổ trợ sau mổ. Một số ca chọn lọc, u lớn lan rộng có thể cân nhắc hoá trị liệu tân bổ trợ trước mổ.

Điều trị u giai đoạn IV: Chưa ứ nước thận, xạ trị đơn thuần, tổng liều 55 - 65 Gy trải liều 5 ngày trong 1 tuần, mỗi ngày 200-250 Rad. Một số trường hợp chọn lọc có thể cân nhắc hoá xạ trị đồng thời; Có ứ nước thận, phẫu thuật đưa niệu quản ra da, hoặc dẫn lưu thận, kết hợp chăm sóc và điều trị triệu chứng.

UTBQ có thể tái phát 52-73% từ 3-15 năm  sau. Do đó cần có chế độ theo dõi bệnh nhân  suốt đời, 6-12 tháng/lần kiểm tra bằng lâm sàng, thử nước tiểu và siêu âm hoặc soi bàng quang. Nếu thấy bắt đầu tái phát, thì điều trị tiếp ngay.

Phòng ngừa: Hiện nay không có một biện pháp hữu hiệu nào có thể phòng chống được UTBQ. Cách tốt nhất là tránh tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ: Không hút thuốc lá, bỏ thuốc lá; Khi làm việc trong các ngành công nghiệp mà phải tiếp xúc với hóa chất gây ung thư bàng quang phải có bảo hộ lao động an toàn; Uống nhiều nước; Chế độ ăn nhiều rau quả có thể phòng chống ung thư bàng quang.

Tác hại khi uống quá nhiều trà xanh

Trà xanh là một trong những loại trà thảo dược được biết đến lâu đời nhất. Ngày nay trà xanh được dùng phổ biến hơn do đặc tính chống oxy hóa vừa có lợi cho sức khỏe vừa giúp giảm cân. Tuy nhiên, uống quá nhiều trà xanh lại có thể không có tốt cho sức khỏe. Chỉ nên giới hạn ở mức 2 cốc mỗi ngày. Nếu uống quá nhiều bạn có thể gặp những tác hại dưới đây:

Lá trà xanh

Rối loạn tiêu hóa

Chất tannin có trong trà xanh làm tăng nồng độ axit trong dạ dày và gây đau dạ dày, buồn nôn và táo bón. Do đó, cần tránh uống trà xanh khi đói.

Thiếu sắt và thiếu máu

Uống nhiều trà xanh có thể gây nguy hiểm vì nó làm giảm hấp thu sắt từ thực phẩm. Để tránh điều này, bạn nên sử dụng thêm chanh và các loại quả khác giàu vitamin C.

Đau đầu

Theo một nghiên cứu, caffein có trong trà xanh là một trong những yếu tố nguy cơ lớn của đau đầu mạn tính. Người ta cũng thấy rằng những bệnh nhân bị chóng mặt và đau nửa đầu nên tránh uống trà xanh.

Rối loạn giấc ngủ

Caffein có trong trà xanh cũng là nguyên nhân gây lo âu và ảnh hưởng tới giấc ngủ. Nó cũng chặn các hóa chất gây buồn ngủ trong não và tăng cường sản xuất adrenalin.

Nhịp tim bất thường

Caffein trong trà xanh gây nhịp tim bất thường. Nó kích thích cơ tim co lại khi nghỉ ngơi. Điều này có thể dẫn tới các rối loạn tim mạch.

Tiêu chảy

Tiêu chảy là một tác dụng khác của dùng quá nhiều trà xanh. Tác dụng nhuận tràng của caffein kích thích các cơ đại tràng co và giãn, kết quả là làm tăng nhu cầu bài tiết chất thải, đôi khi dẫn tới các bệnh như tiêu chảy.

BS Cẩm Tú

(Theo Boldsky/ Univadis)

http://suckhedoisong.vn

Bài thuốc chữa bệnh viêm xoang

Thương con trai bị viêm xoang từ nhỏ, đã điều trị nhiều năm với đủ mọi phương pháp mà không khỏi bệnh, vợ chồng ông bà Trần Ngọc Đảnh - Trần Thị Kim Phúc (ngụ Quận 6, Tp.Hồ Chí Minh) cất công mày mò, cậy nhờ những bài thuốc dân gian.

Điều thần kỳ đã đến khi gia đình này được mách nước tự chế bài thuốc cực kỳ đơn giản của đồng bào dân tộc Tây Nguyên dùng cây giao (một loại cây thuộc họ xương rồng), giúp người bệnh “đoạn tuyệt” với bệnh xoang mà không tốn một đồng tiền.

 

 

Cây giao

Khuyến cáo phòng chống bệnh quai bị

 

Bệnh quai bị (còn gọi là bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút quai bị gây nên. Bệnh lây qua đường hô hấp, lưu hành ở khắp nơi trên thế giới, bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường gây dịch vào mùa Đông - Xuân.

Bệnh quai bị hay gặp ở lứa tuổi học đường và hay gây thành dịch trong trẻ em, thanh thiếu niên tại các trường mẫu giáo, trường học, đơn vị tân binh… Trẻ em dưới 2 tuổi và người già rất ít khi bị bệnh. Sau khi mắc bệnh, bệnh nhân có miễn dịch vững bền tồn tại nhiều năm và rất hiếm khi tái phát.

Biểu hiện chính của bệnh ban đầu là sốt nhẹ, nhức đầu, mệt mỏi, mất cảm giác ngon miệng, sau đó sốt tăng dần lên đến 39,5°C - 40°C, các tuyến mang tai gần tai bắt đầu sưng lên và đau, làm cho việc nhai và nuốt đau đớn…Tiếp theo, người bệnh có thể bị viêm tinh hoàn (ở nam giới), viêm buồng trứng (ở nữ giới). Viêm tinh hoàn do quai bị hay gặp nhất ở lứa tuổi dậy thì và thanh thiếu niên mới trưởng thành. Đặc điểm nổi bật của viêm tinh hoàn là thường xảy ra một bên (ít gặp viêm 2 bên), tinh hoàn sưng to, đau, mật độ chắc, da bìu bị phù nề, căng, bóng, đỏ. Bệnh nhân cũng có thể bị viêm mào tinh hoàn, viêm thừng tinh hoàn, tràn dịch màng tinh hoàn, viêm tuỵ, viêm não, màng não... Bệnh quai bị ít gây tử vong nhưng phụ nữ có thai bị quai bị có thể bị sảy thai, đẻ non, ở nam giới tuổi trưởng thành nếu viêm tinh hoàn nặng cả hai bên có thể dẫn đến vô sinh.

Hiện nay, bệnh quai bị chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, phương pháp chủ yếu là điều trị triệu chứng, tăng cường dinh dưỡng, nâng đỡ cơ thể, phát hiện và xử trí sớm các biến chứng viêm tinh hoàn, viêm màng não...
Để phòng chủ động phòng chống bệnh quai bị, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt các biện pháp sau:

- Thường xuyên rửa tay với xà phòng, bảo đảm vệ sinh nhà ở, lớp học, vệ sinh cá nhân sạch sẽ, đặc biệt là đường hô hấp, thường xuyên đeo khẩu trang để tránh những viêm nhiễm gây nên bệnh quai bị.
- Tiêm vắc xin phòng bệnh quai bị (vắc xin dịch vụ, người tiêm tự chi trả kinh phí), vắc xin quai bị rất quan trọng cho những trẻ dậy thì, thiếu niên và người trưởng thành chưa có miễn dịch.
- Khi có người bị bệnh phải cho nghỉ tại nhà để cách ly (khoảng 10 ngày), tránh lây lan cho các người khác.
- Khi có người bị bệnh hoặc nghi ngờ bị bệnh phải đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn, xử trí kịp thời, đặc biệt là với những trường hợp bị khó nuốt, khó thở, viêm tinh hoàn.
   NguồnCục Y tế dự phòng - Bộ Y tế

Đăng Nhập

Đang có 73 khách và không thành viên đang online

Lượt truy cập

0516152

IP của bạn là: 54.144.21.195
Thời gian: 20-09-2017 14:25:25
FacebookTwitterGoogle BookmarksRSS Feed